Bản tin tư vấn tiền tệ ngày 17/12/2009

 

 

NHỮNG CÂU CHUYỆN CẦN QUAN TÂM

·          NHỮNG PHÁT BIỂU SAU CUỘC HỌP ĐANG HỖ TRỢ ĐỒNG USD

·          ĐỒNG TIỀN CHUNG TIẾP TỤC TÍCH LŨY VÀ CHỜ ĐỢI XU HƯỚNG MỚI

·          VÀNG TĂNG KHI SAU CUỘC HỌP BÀN LÃI SUẤT

 

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

CHÍ SỐ SẢN XUẤT BANG PHILADELPHIA

22:00

 

 

KỲ VỌNG

 

THỰC TẾ

 

 

16.2

 

?

 

 

 

Thông Tin Về Thị Trường

Giá USD NHNN

17.941 (tăng 0đ)

Giá USD Eximbank

18.479– 18.479 – 18.479

Giá vàng Eximbank

2.710.000 – 2.740.000

Giá vàng thị trường tự do

2.710.000 – 2.740.000

Giá dầu thị trường Nymex – Mỹ

72.86USD/thùng

 

NHỮNG PHÁT BIỂU SAU CUỘC HỌP ĐANG HỖ TRỢ ĐỒNG USD

Một sự nhận định tương đối lạc quan về viễn cảnh kinh tế của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) cùng với những phát biểu cụ thể hơn về việc tháo gỡ các biện pháp khẩn cấp đã giúp cho đồng USD tăng giá so với hầu hết các đồng tiền khác trong rổ tiền tệ. Tuy nhiên dường như thông tin này chưa đủ mạnh để có thể khiến đồng bạc xanh có thể phá mức kháng cự đã được thiết lập trong thời gian gần đây. Trong khi đó trên thị trường chứng khoán, diễn biến của các chỉ số chính cho thấy không có nhiều phản ứng tích cực sau khi cuộc họp bàn về chính sách tiền tệ diễn ra. Chốt phiên giao dịch, chỉ số S&P 500 tăng 0,1% lên mức 1.109,18 điểm tại thị trường New York, trước đó trong phiên giao dịch, đã có lúc chỉ số này tăng khoảng 0,8%. Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 0,1%, chỉ số Nasdaq tăng 0,27%.

Sự phục hồi khiêm tốn của đồng USD một phần được cho là do Fed chưa có bất kỳ động thái nào cho thấy Fed sẽ sớm thay đổi chính sách tiền tệ. Tuy nhiên mọi thứ sẽ thay đổi sau khi Fed đang có kế hoạch tháo gỡ các chương trình kích thích kinh tế khẩn cấp. Giọng điệu của cuộc họp lần này không những đã không lập lại những gì của cuộc họp vào tháng 11 mà còn cho thấy một kế hoạch cụ thể trong việc dừng các chương trình hỗ trợ vào đầu năm 2010. Do đó mặc dù các thị trường tài chính đều không có nhiều biến động mạnh như kỳ vọng sau những thông báo của Ủy ban thị trường mở liên bang Mỹ (FOMC) nhưng giới đầu tư cũng đang nhận ra rằng Fed đã giữ nguyên mức lãi suất và cũng cho biết mức lãi suất này sẽ còn duy trì trong một thời gian nữa nhưng họ cũng đang tiến đến rất gần với chính sách thắt chặt tiền tệ. Fed đã không thể phủ nhận sự phục hồi của thị trường lao động cũng như thị trường tài chính. Đây có thể là những nhân tố gốc khiến cho đồng USD sẽ còn tăng giá trong thời gian tới. Các chuyên gia phân tích cho biết họ tin rằng đồng USD sẽ còn tăng giá cho đến đầu năm sau.

Những dữ liệu kinh tế được công bố trong phiên giao dịch hôm qua đã có những tác động trái ngược đến sức khỏe của đồng bạc xanh. Chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 0.4% nhưng nếu không tính những thay đổi trong giá xăng dầu và thực phẩm thì giá tiêu dùng đã giảm so với kỳ trước. Điều này cũng khiến cho giới đầu tư giảm bớt kỳ vọng về những phát biểu mang tính thắt chặt trong chính sách tiền tệ của Fed và đã làm cho đồng USD giảm nhẹ. Thâm hụt ngân sách đã tăng trở lại trong quí III từ mức 98 tỷ USD lên mức 108 tỷ USD. Điểm sáng duy nhất trong dữ liệu kinh tế được công bố trong phiên giao dịch hôm qua chính là số nhà đang xây tiếp tục tăng từ mức 0.53 triệu căn lên 0.57 triệu căn trong kỳ này. Hôm nay mọi sự chú ý đang hướng đến báo cáo về số người thất nghiệp hàng tuần cũng như báo cáo về môi trường sản xuất tại bang Philadelphia. Môi trường sản xuất tại khu vực New York đã giảm mạnh trở lại trong tháng qua có thể sẽ có những tác động tiêu cực đến việc dự báo môi trường sản xuất tại bang Philadelphia. Nếu như môi trường sản xuất tại đây cũng suy yếu thì có thể khẳng định sự phục hồi của thị trường sản xuất đang chậm lại.

ĐỒNG TIỀN CHUNG TIẾP TỤC ĐÀ GIẢM TRƯỚC KHI PHỤC HỒI

Phiên giao dịch hôm qua, sau khi có sự hiệu chỉnh phục hồi từ mức mở cửa 1.4533 $ lên mục tiêu kỹ thuật thứ nhất của chúng tôi tại 1.4570 $ (mức cao nhất 1.4590$), đồng tiền chung đã tiếp tục suy giảm và rồi đóng cửa 1.4530 $. Với nhiều thông tin được công bố, đặc biệt là các chỉ số của các khu vực thành viên và biên bản báo cáo từ FOMC trên thị trường Mỹ, đồng EUR biến động trong biên độ 90 điểm và tích lũy vào cuối phiên. Từ biên báo cáo của FOMC rạng sáng hôm nay (giờ Hà Nội), những hàm ý về một nền kinh tế còn nhiều rủi ro vẫn mạnh mẽ, đồng bạc xanh vẫn được củng cố khi được giới đầu tư tiếp tục đưa vào danh mục. Trong phiên giao dịch Châu Á sáng nay, cặp tỷ giá này tiếp tục suy yếu mạnh và nhằm mục tiêu 1.4400$. Khi phiên Châu Âu mở cửa, dự báo đồng tiền chung sẽ không biến độ nhiều do lượng thông tin công bố ít, chủ yếu tới từ nước thành viên nước Anh. Tuy nhiên, sự tác động ảnh hưởng nhiều tới đồng EUR được kỳ vọng chính là thông tin về tỷ lệ thất nghiệp và chỉ số sản xuất trên thị trường New York. Đồng EUR có phục hồi từ mốc 1.4390$?

VÀNG TĂNG KHI SAU CUỘC HỌP BÀN LÃI SUẤT

Giá vàng đã tăng mạnh trong phiên giao dịch hôm qua sau khi đóng cửa quanh mức 1138 USD/oz vào cuối phiên giao dịch trên thị trường New York. Đà tăng giá của vàng đã được bắt đầu ngay khi thị trường châu Á mở cửa và liên tục kéo dài cho đến trước cuộc họp bàn lãi suất của Fed. Tăng từ mức 1129 USD/oz lên mức 1139 USD/oz và sau đó vàng lại trượt xuống 1128.50 USD/oz, tuy nhiên khi FED công bố vẫn duy trì mức lãi suất không đổi cùng với động thái mua gần 4 tấn vàng của SPDR vào đêm qua khiến giá vàng lại được tiếp thêm lực tiến và nhanh chóng quay lại hình thành mức cao nhất trong ngày ở 1141 USD/oz. Sau 2 ngày họp, Uỷ ban thị trường Mở FOMC của FED đã ra quyết định giữ nguyên lãi suất tại mức 0-0.25% và cho biết kinh tế đang cải thiện. Trong tuyên bố đi kèm quyết định giữ nguyên lãi suất, FED nhắc lại sẽ giữ lãi suất tại mức “đặc biệt thấp” trong một thời gian nữa và cho biết kinh tế đang mạnh lên. Fed cũng cho biết sẽ tiếp tục mua chứng khoán nợ thế chấp của các công ty trong quí I năm 2010.

CHIẾN LƯỢC GIAO DỊCH

Tiền tệ

Trạng thái

Mục tiêu

Dừng lỗ

Mua

Bán

Vàng

 

1140.00

1130.00

1145.00

EUR

 

1.4500

1.4400

1.4550

GBP

 

1.6300

1.6200

1.6350

AUD

 

0.9000

0.8900

0.9050

JPY

 

89.50

90.50

89.00

 

Ngoại tệ

 Biên độ giao dịch

Hôm trước

Dự báo hôm nay

Vàng

1121.35 – 1141.05

1130.00 – 1140.00

EUR

1.4502 – 1.4587

1.4400 – 1.4500

GBP

1.6230 – 1.6409

1.6200 – 1.6300

AUD

0.8952 – 0.9066

0.8900 – 0.9000

CAD

1.0568 – 1.0639

1.0600 – 1.0700

JPY

89.37 – 89.96

89.50 – 90.50