Bản tin tư vấn tiền tệ ngày 05/03/2010

 

NHỮNG CÂU CHUYỆN CẦN QUAN TÂM

·          ĐỒNG BẠC XANH CHỜ ĐỢI TIN BẢNG LƯƠNG PHI NÔNG NGHIỆP !

·          ĐỒNG TIỀN CHUNG SUY GIẢM !

·          VÀNG TRƯỚC GIỜ G !

 

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

BẢNG LƯƠNG PHI NÔNG NGHIỆP

 

 

 

KỲ VỌNG

 

THỰC TẾ

 

 

-56 K

 

?

 

 

 

Thông Tin Về Thị Trường

Giá USD NHNN

18.544 (Không đổi)

Giá USD Eximbank

19.910– 19.100– 19.100

Giá vàng Eximbank

2.720.000 – 2.770.000

Giá vàng thị trường tự do

2.720.000 – 2.770.000

Giá dầu thị trường Nymex – Mỹ

80.67 USD/thùng

 

ĐỒNG BẠC XANH CHỜ ĐỢI TIN BẢNG LƯƠNG PHI NÔNG NGHIỆP !

Đồng bạc xanh trong phiên giao dịch hôm qua đã phục hồi mạnh mẽ và tăng giá so với hầu hết các đồng tiền trong rổ tiền tệ. Lấy lại những gì đã mất trong phiên trước đó, chỉ số USD - Index tăng 0.48 điểm từ mức giá mở cửa 80.02 điểm lên 80.50 điểm do những thông tin từ thi trường Châu Âu, thị trường nhà đất và kỳ vọng trong nhận định của giới quan chức. Ngay khi thị trường Châu Á mở cửa, đồng bạc xanh đã có lực hỗ trợ do xuất hiện những kỳ vọng vào dự báo của giới chuyên gia. Theo đó, Ngân hàng trung ương Anh (BoE) và Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) như dự báo đã giữ nguyên mức lãi suất cơ bản. Đối với BoE, ngoài thông báo giữ nguyên mức lãi suất là 0.5%, Ngân hàng trung ương này cũng không có bất kỳ động thái nào trong việc thay đổi quy mô của chương trình nới lỏng số lượng cũng như việc đề cập đến việc thắt chặt tiền tệ. Trong khi đó, sau khi giữ nguyên mức lãi suất 1.0%, Chủ tịch ECB Trichet cho biết nền kinh tế tại khu vực chung đang trên đà phục hồi nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong khi những vấn đề thâm hụt ngân sách của Hy Lạp vẫn đang trong giai đoạn khắc phục. Thông tin này đã khiến đồng USD bắt đầu tăng giá. Đà tăng tiếp tục thể hiện mạnh mẽ khi thị trường đón nhận những phát của của các quan chức FED - Bullard. Theo Bullard việc FED tăng cơ số tiền tệ đã, đang và sẽ tạo những những rủi ro lạm phát trong trung hạn. Điều này có nghĩa là Fed cần phải quan tâm nhiều hơn đến các chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát trong ngắn và trung hạn. Ông cũng cho rằng Fed cần xây dựng những chính sách mang tính tình thế vì cuộc khủng hoảng chỉ trong giai đoạn đầu của sự phục hồi.

Đứng trên quan điểm từ các thông tin trong nội tại nền kinh tế Mỹ, thông tin khả quan trên thị trường lao động ở đầu phiên không làm giảm đi việc đồng bạc xanh tăng mạnh về cuối phiên do những thông tin trên thị trường nhà đất tiếp tục xấu đi. Doanh số nhà chờ bán do Hiệp hội địa ốc Mỹ công bố thấp hơn rất nhiều khi con số thực tế giảm -7.6% so với dự báo của giới chuyên gia tăng 1.4%. Như vậy, từ tháng 4/2009, số lượng hợp đồng bán nhà đã rơi xuống mức thấp nhất.

Hướng tới phiên giao dịch cuối tuần, thị trường đang chờ đợi thông tin quan trọng về bảng lương phi nông nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp khi thị trường Mỹ mở cửa. Báo cáo về thị trường việc làm Mỹ tháng 2/2010, theo dự báo của một số chuyên gia, dự kiến sẽ cho thấy tỷ lệ thất nghiệp tăng lên mức 9,8% từ mức 9,7% của tháng 1/2010. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng nhiều khả năng số giờ làm việc của những ngườ làm việc đã tăng lên và mức lương tính trung bình theo từng giờ lao động cũng cải thiện. Việc các chỉ số này cải thiện cũng cho thấy hoạt động tuyển dụng đang trở nên sôi động hơn.

Riếng đối với bảng lương phi nông nghiệp được không bố tối nay không được trông đợi sẽ đem lại một cái nhìn khả quan hơn cho thị trường lao động Mỹ. Sự phục hồi của thị trường lao động vẫn rất thất thường và xu hướng này được cho là vẫn còn tiếp diễn. Vì thế, nhiều khả năng đồng bạc xanh sẽ biến động “thăng trầm” theo xu hướng và trong biên độ rộng sau khi bảng lương được công bố tối nay.

ĐỒNG TIỀN CHUNG SUY GIẢM !

Sau cuộc họp bàn của ECB và BoE, việc giữ nguyên lãi suất của 2 ngân hàng trung ương này cộng với một số chính sách đã tác động và gây áp lực cho đồng tiền chung. Nền kinh tế khu vực chung vẫn chưa giải quyết được vấn đề từ Hy Lạp. Theo đó, chủ tịch ECB Trichet cho biết nền kinh tế tại khu vực chung vẫn chưa lấy lại được “cân bằng” và chỉ đang trên đà phục hồi và vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Kết thúc phiên giao dịch, chỉ số EUR - Index giảm từ mức mở cửa 114.02 điểm xuống 113.48 điểm. Cùng với đó, cặp tỷ giá EUR/USD giảm 114 điểm từ 1.3694 xuống 1.3580.

Trong phiên ngày hôm nay, ngoại trừ thông tin về đơn đặt hàng công nghiệp của Đức, đồng tiền chung đang chờ đợi phiên biến động trong biên độ rộng và theo chiều hướng tích cực khi bảng lương phi nộng nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp trên thị trường Mỹ được công bố.

VÀNG TRƯỚC GIỜ G !

Trong diễn biến ngày hôm qua, trên thị trường Châu Á, giá vàng đã giảm xuống quanh mức 1132.40 USD/oz vào cuối phiên và đã bắt đầu tăng trở lại từ mức này và đà tăng giá diễn ra mạnh mẽ trong thị trường châu Âu. Giá vàng đã quay trở lại quanh mức 1141.45 USD/oz vào cuối phiên giao dịch trên thị trường châu Âu trước khi giảm mạnh khi giới đầu tư tất toán các trạng thái mua để chuẩn bị đón nhận những thông tin từ hai cuộc họp bàn lãi suất và lo lắng từ phía Hy Lạp. Mọi người đang hiểu rằng vẫn đề nợ công của Hy Lạp không dễ giải quyết và mục tiêu cắt giảm chi tiêu của Chính phủ không dẽ dàng đạt được. Làn sóng phản đối đang bắt đầu diễn ra trong giới công chức viên và một loạt công đoàn chủ chốt đã kêu gọi đình công. Những thông tin này cùng những thông tin trên thị trường Mỹ đã đẩy giá vàng chạm mức thấp 1125.60 USD/oz trước khi đóng cửa tại 1132.03 USD/oz.

Như thường lệ, phiên giao dịch thứ 6, tuần đầu tiên của tháng luôn là thời điểm mà giới đầu tư quan tâm tới mức biến động trên tất cả các thị trường khi mà bảng lương phi nông nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp được công bố. Liệu rằng mục tiêu 1148 USD/oz có được chinh phục ?

                                                                                               

 CHIẾN LƯỢC GIAO DỊCH

Tiền tệ

Trạng thái

Mục tiêu

Dừng lỗ

Mua

Bán

Vàng

1130

 

1148

1120.00

EUR

1.3580

 

1.3680

1.3530

GBP

1.5030

 

1.5130

1.4980

AUD

0.9000

 

0.9100

0.8950

JPY

 

89.00

90.00

88.50

 

Ngoại tệ

Biên độ giao dịch

Hôm trước

Dự báo hôm nay

Vàng

1125.40 – 1141.20

1130.00 – 1148.00

EUR

1.3551 – 1.3694

1.3580 – 1.3680

GBP

1.5005 – 1.5135

1.5030 – 1.5130

AUD

0.8977 – 0.9092

0.9000 – 0.9100

CAD

1.0270 – 1.0339

1.0270 - 1.0400

JPY

88.13 – 89.25

89.00 – 90.00